Dune: Part Two đã ra mắt toàn thế giới được hơn một tháng, đánh dấu kết thúc giai đoạn chuyển thể quyển 1 trong bộ 6 cuốn Dune Saga của Frank Herbert. Như bài viết trước đã bàn luận, tôi hoàn toàn đồng ý và hiểu được động cơ cho cách chuyển thể của Denis Villeneuve. Ông buộc phải lược bỏ những khái niệm trừu tượng, vốn khó chuyển tải trong giới hạn thời lượng, khả năng tiếp nhận đại chúng cũng như tính tổng hoà của bộ phim.

Phân đoạn cuối cùng, màn đối đầu giữa Paul Atreides với hàng ngũ hoàng gia, được Denis đưa lên màn ảnh tuy lược bỏ nhiều chi tiết quan trọng trong nguyên tác, nhưng cơ bản giữ được tính “red flag” của Paul, sự khủng khiếp của Thánh Chiến bùng nổ, cũng như cảm xúc đau đớn của Chani làm dấu chấm hết. Giữa Paul và Mẹ Chí Tôn Mohiam có màn đối đầu ngắn, thể hiện uy lực Paul Atreides lấn át được Mohiam. Cũng phải nói thêm, nguyên tác miêu tả rõ hơn rằng Paul không ưa Mẹ Chí Tôn, không ưa cách bà đối xử với Jessica và cậu không phục theo lề thói bà áp đặt.

Tuy không vâng lời, vào lần đầu gặp gỡ tại thử thách Gom Jabbar, Paul chưa đủ năng lực kháng cự lại Mohiam, vẫn bị kỹ năng Bene Gesserit của bà điều khiển. Đến lần gặp thứ hai cũng là cuối cùng, tình thế đã đảo ngược. Paul khẳng định vị thế của mình giờ đây là một Kwisatz Haderach, mở khoá sức mạnh vẹn toàn. Khi Mohiam cố gắng dùng thuật với Paul, cậu đã kháng cự được và thách thức bà. Đoạn này Villeneuve bỏ qua, nhưng bản Dune (1984) của David Lynch đã giữ nguyên.

Nơi mà Bene Gesserit không dám nhìn vào là gì?
Cái nơi mà Mohiam, hay cả hội Bene Gesserit không dám nhìn vào ấy là gì? Nơi tăm tối đó Jessica từng nhìn thấy trong nghi thức Nước Sự Sống, nhưng bản thần bà cũng né tránh. Mohiam đã từng đề cập đến nơi này khi thử thách Paul: “…có một nơi không Người Nói Sự Thật nào thấy được. Họ bị nơi đó cự tuyệt, bị nó làm cho khiếp sợ. Người ta nói sẽ có ngày một người đàn ông đến và nhờ thuốc này mà tìm ra con mắt bên trong của y. Người đó sẽ nhìn thấy nơi mà bọn ta không thể tới – trong cả quá khứ của đàn ông lẫn đàn bà”.
Đến lượt Paul uống Nước Sự Sống, cậu đã bắt mẹ mình chỉ cho nơi tăm tối ấy. Thông qua mối tương giao với Jessica, Paul đã dấn thân vào nơi vốn dĩ cấm kỵ. “Bị sức mạnh khủng khiếp của chàng thúc ép, bà nhắm mắt lại mà tập trung vào bên trong – vào cái-hướng-vốn-dĩ-tối-tăm. Ý thức của Paul tuôn trào qua bà, tuôn trào quanh bà rồi chảy vào bóng tối. Bà lờ mờ thoáng thấy nơi đó trước khi tâm trí bà tự đóng sụp lại vì khiếp sợ”.

Vậy, Paul đã thấy gì ở nơi Bene Gesserit không dám nhìn? Paul dường như đã miêu tả thứ cậu hiểu được sau khi tiến vào lãnh địa ký ức ấy của đàn ông và phụ nữ. “Trong mỗi chúng ta đều có một lực cổ xưa luôn cho và một lực cổ xưa luôn nhận. Người đàn ông ít gặp khó khăn hơn khi đối mặt với cái nơi bên trong anh ta vốn là chỗ cư trú của lực nhận, nhưng khi nhìn thấu vào lực cho là việc hầu như không thể nếu anh ta không chuyển hoá thành cái gì đó khác chứ không chỉ là đàn ông. Với phụ nữ thì ngược lại.”
“Đó là những điều quá xa xưa bên trong chúng ta, được nhồi nhét vào từng tế bào trong cơ thể. Chúng ta được tạo ra từ những lực đó. Mẹ có thể tự nhủ: ‘Phải, ta biết một lực như vậy có thể là thế nào’, nhưng khi mẹ nhìn vào bên trong mình và đối mặt với cái lực nguyên sơ bắt nguồn từ sự sống của mình trong trạng thái không che chắn, thì mẹ thấy nguy cơ. Mẹ thấy cái đó có thể chôn vùi mẹ. Nguy cơ lớn nhất của Người nhận là cái lực luôn cho. Khi cho cũng như khi nhận, ta đều có thể dễ dàng bị chôn vùi như nhau”.

Nếu vậy thì thứ khiến cho Bene Gesserit, hay những người nữ không thể chịu đựng được về tinh thần, đó là lực cổ xưa tạo nên sự sống của đàn ông và phụ nữ. Người phụ nữ là lực cho, còn đàn ông là lực nhận. Nguyên bản tiếng Anh là “an ancient force that takes and an ancient force that gives”. Bản dịch tiếng Việt của Trần Tiễn Cao Đăng dịch “force that takes” là “lực nhận”, nhưng theo mình nghĩ, nó còn một tầng nghĩa nữa là “lực xâm chiếm”. Từ xa xưa, phụ nữ luôn được cho là đại diện của Kiến Tạo (Creation) và đàn ông là Huỷ Diệt (Destruction).
Có thể hiểu Bene Gesserit đại diện cho Creation, bởi họ kiểm soát chương trình sinh sản. Còn ký ức tổ tiên mang năng lượng nam với đặc tính chinh phạt, chiếm đoạt, những cuộc chiến đẫm máu trong vùng tối ký ức đó có phải thứ khiến Bene Gesserit không chịu nổi? Họ không đủ năng lực, hay vì họ không dám? Chúng ta sẽ tìm hiểu thêm bên dưới, nhưng trước tiên để mình giải thích một chút về Tạo Sinh và Huỷ Diệt một cách khách quan.
Trong nhiều nền văn hoá cổ xưa, Vũ Trụ đượccho là tạo ra từ lực sinh lẫn lực diệt. Tạo sinh và huỷ diệt song hành để duy trì một thế giới cân bằng. Nó mang tính khách quan và phụ thuộc lẫn nhau, chứ không có nghĩa Huỷ Diệt là tiêu cực và Tạo Sinh mình nó là tích cực. Một ví dụ tiêu biểu là thần Shiva trong Ấn Độ giáo mang đầy đủ tính nam lẫn tính nữ, là người cha và người mẹ, thậm chí cao hơn, Người là tất cả các cặp đối lập và nằm bên ngoài nó. Điệu nhảy Vũ Trụ của Shiva mang ý nghĩa vừa kiến tạo vừa huỷ diệt.

Quay lại với nơi chốn tối tăm kia, nếu theo như Paul giải thích, thì đó là nơi chứa lực cổ xưa của cả đàn ông và phụ nữ, chứa ký ức của tất cả tổ tiên hai. Khi uống thuốc chuyển hoá, người nữ chỉ thụ nhận được ký ức từ tổ tiên nữ, còn người nam thì sẽ chết ngay. Chỉ có Kwisatz Hadersach, Người Được Chọn, kết quả của quá trình sinh sản chọn lọc mới có thể trải qua quá trình khai mở ấy, tiếp nhận ký ức và bản ngã của cả hai giới. Anh ta là người có khả năng “chuyển hoá thành cái gì đó khác chứ không chỉ là đàn ông”.
Giả thuyết: Alia Atreides có từng tới vùng tối ấy?
Có nhiều bàn luận xoay quanh việc vì sao Frank Herbert lại cho phụ nữ không có khả năng xâm nhập vào miền ký ức của cả hai giới. Đó có phải rập khuôn định kiến về năng lực nữ giới? Well, mọi chuyện có lẽ không căng thẳng như bạn nghĩ. Nếu thử suy xét từng từ ông viết, ta có thể hiểu là, không phải các Bene Gesserit không có năng lực đi vào nơi đó, mà là họ không dám, tâm trí họ cưỡng lại. Họ bị như vậy là do họ biết quá nhiều, dẫn đến thận trọng và một phần trong họ không dám “xuôi dòng”.

Minh chứng là Jessica khi thực hiện nghi lễ, bà đã thấy vùng tối ấy nhưng tránh đi, không dám nhìn vào. Sự hiểu biết đã ngăn cản bà khám phá. Từ đó, một giả thiết đặt ra là, nếu như người nữ không thể đi vào nơi tăm tối đó bởi họ biết nó nguy hiểm, thì có phải một bào thai như Alia, với ý thức bị phơi trần không được bảo vệ, sẽ trôi thẳng vào nơi đó, dẫn đến khái niệm về Abomination mà hội Bene Gesserit ghê tởm, cũng như không làm chủ được các bản ngã mà mình sở hữu.
Chính vì vậy mà Abomination nguy hiểm trong mắt Bene Gesserit và họ sẽ tìm cách thủ tiêu, thậm chí có thể xem đó là hành động nhân từ. Đừng đơn giản chỉ xem Alia là một Mẹ Chí Tôn ngay từ khi lọt lòng, cô là chủng loài khác, đặc biệt, đơn độc. Bởi vì chưa được huấn luyện các kỹ năng cần thiết mà lại bị trôi trong dòng ký ức tổ tiên, Alia sớm gặp những chuyện bất ổn với ký ức hiểm ác từ tổ tiên nam.